Giá thành một thanh bar được tính từ đâu
Giá thành một thanh bar gồm nguyên liệu, bao bì, phí gia công, vận chuyển và hao hụt, cộng các khoản dễ quên như kiểm nghiệm. Giải thích không dùng con số thật.
Giá thành một thanh bar được cộng từ năm phần: nguyên liệu, bao bì, phí gia công tại nhà máy đối tác, vận chuyển và lưu kho, và hao hụt. Cộng thêm một nhóm chi phí dễ quên: kiểm nghiệm, mẫu, chứng nhận, và hàng trả về. Bài này giải thích từng phần bằng lời thường, không dùng con số thật của Color of Vietnam, để ứng viên hiểu vì sao R&D và marketing đều phải biết đọc bảng giá thành, và để đối tác hiểu vì sao chúng tôi hỏi kỹ về số lượng trước khi báo giá.
Nguyên liệu: phần ai cũng nhìn thấy
Nguyên liệu là phần dễ hình dung nhất: hạt điều, yến mạch, đậu phộng, cacao, nam việt quất, chất kết dính, mỗi thứ nhân với lượng trong công thức. Nhưng bảng giá thành không dừng ở giá mua. Cần cộng thêm:
- Hao hụt khi rang, nghiền, sàng: khối lượng nguyên liệu vào không bằng khối lượng ra.
- Chi phí chở nguyên liệu tới nhà máy và tiền lưu kho nguyên liệu.
- Biến động giá theo mùa. Hạt điều có mùa vụ, giá đầu vụ và cuối vụ khác nhau.
Một thay đổi công thức nhỏ trong buổi duyệt mẫu, ví dụ tăng tỷ lệ hạt điều, đổi giá thành ngay. Vì thế người làm R&D của chúng tôi có cột giá cạnh cột công thức, và nhìn hai cột cùng lúc.
Bao bì: phần hay bị đánh giá thấp
Với thanh bar, bao bì gồm màng gói từng thanh, hộp hoặc túi đựng nhiều thanh, thùng carton, và nhãn phụ nếu có. Người mới thường bất ngờ vì bao bì chiếm phần lớn hơn họ nghĩ trong giá thành của một sản phẩm nhỏ. Màng in tính theo cuộn và theo bản in, hộp tính theo khuôn, và mỗi thứ có số lượng đặt tối thiểu.
Bao bì cũng có hao hụt riêng: màng bỏ khi lên máy, gói hàn lỗi, hộp móp trong vận chuyển.
Phí gia công: trả cho thời gian máy và người
Vì Color of Vietnam sản xuất tại hệ thống nhà máy đối tác, chúng tôi trả phí gia công cho từng lô. Phí này thường tính theo kilogram hoặc theo số gói, và phụ thuộc vào:
- Thời gian chuẩn bị máy cho mỗi lần chạy: vệ sinh, đổi khuôn, lên màng, chạy thử vài gói đầu.
- Tốc độ dây chuyền với sản phẩm cụ thể: thanh dẻo chạy chậm hơn bánh giòn.
- Kiểm tra chất lượng trong lô: cân, kiểm tra ngoại quan, lưu mẫu.
Thời gian chuẩn bị máy là chi phí cố định cho mỗi lần chạy. Lô nhỏ chia chi phí đó cho ít gói, nên mỗi gói gánh nhiều hơn. Đây là lý do giá thành mỗi thanh của một lô thử luôn cao hơn nhiều so với lô sản xuất, và là lý do câu hỏi về số lượng đặt tối thiểu luôn đến trước câu hỏi về giá.
Vận chuyển, hao hụt và các khoản dễ quên
Sau khi ra khỏi nhà máy, thanh bar còn đi tới kho, rồi tới người mua. Chi phí gồm vận chuyển từng chặng, tiền kho tính theo pallet và theo tháng, và tiền vốn nằm trong hàng tồn.
Hao hụt được tính thành một dòng riêng, gộp mọi thứ không bán được: đầu thừa của tấm ép khi cắt thanh, những gói đầu và cuối mỗi lần chạy, mẫu lưu, mẫu gửi người mua, hàng lỗi bao bì. Dòng này nhỏ trên mỗi thanh nhưng không bao giờ bằng không, và một bảng giá thành không có dòng hao hụt là bảng giá thành đang tự lừa mình.
Ngoài ra còn những khoản dễ quên:
- Kiểm nghiệm: phiếu kết quả phân tích cho bảng dinh dưỡng, kiểm tra vi sinh, thử hạn dùng, làm lại mỗi khi công thức đổi.
- Chứng nhận và đăng ký: chi phí duy trì và hồ sơ. Chứng nhận thuộc về nhà máy đối tác, nhưng vẫn có phần việc bên chúng tôi.
- Thiết kế và bản in: mỗi lần đổi nhãn là một bộ bản in mới.
- Hàng trả về và đổi hàng: hiếm, nhưng khi có thì tốn cả sản phẩm lẫn vận chuyển hai chiều.
Chúng tôi chia các khoản này cho số thanh dự kiến bán trong một kỳ, và cộng vào giá thành như một dòng riêng, để chúng không biến mất trong chi phí chung.
Ví dụ: bảng giá thành của thanh PLAY Nutrition vị trái cây và yến mạch
Bảng giá thành của thanh năng lượng PLAY Nutrition vị trái cây và yến mạch ở chúng tôi là một trang tính, mỗi dòng một khoản, chia thành sáu khối theo đúng thứ tự trên: nguyên liệu, bao bì, gia công, vận chuyển và kho, hao hụt, và các khoản dễ quên. Ba cột số: giá thành ở lô thử, ở lô sản xuất đầu tiên, và ở số lượng chúng tôi hướng tới. Khi buổi duyệt mẫu quyết định tăng lượng nam việt quất, người làm R&D sửa dòng nguyên liệu, và cả ba cột đổi theo ngay. Nếu cột thứ ba vượt mức giá bán cho phép, buổi duyệt phải chọn: giữ vị và đổi sang bao bì rẻ hơn, giữ bao bì và giảm lượng nam việt quất, hay giữ cả hai và chấp nhận biên lợi nhuận mỏng hơn. Không lựa chọn nào là sai, nhưng phải chọn có ý thức.
Chúng tôi không công bố các con số trong bảng này, chỉ công bố cách tính.
Nếu bạn là ứng viên và muốn học đọc một bảng giá thành từ ngày đầu, hãy xem các vị trí Fresher Product R&D (FMCG) và Marketing Leader trên trang Tuyển dụng. Nếu bạn là người mua muốn hiểu giá chúng tôi báo được cộng từ đâu, hãy liên hệ, chúng tôi sẵn lòng đi qua từng dòng với bạn.
Câu hỏi thường gặp
Giá thành một thanh bar gồm những phần nào?
Nguyên liệu, bao bì, phí gia công tại nhà máy đối tác, vận chuyển và lưu kho, hao hụt, cộng các khoản dễ quên như kiểm nghiệm, chứng nhận, bản in và hàng trả về.
Vì sao lô thử có giá thành mỗi thanh cao hơn lô sản xuất?
Vì thời gian chuẩn bị máy là chi phí cố định cho mỗi lần chạy. Lô nhỏ chia chi phí đó cho ít gói, nên mỗi gói gánh nhiều hơn.
Color of Vietnam có công bố con số giá thành không?
Không. Chúng tôi công bố cách tính, gồm sáu khối chi phí và ba cột số theo quy mô lô, vì cách tính là thứ đối tác và ứng viên dùng được.
Thấy hợp thì cùng làm.
Nếu bạn chia sẻ góc nhìn này, hãy xem các vị trí đang tuyển hoặc gửi đề xuất hợp tác cho chúng tôi.
Đọc tiếp
Kiểm tra từng dòng trước khi in bao bì
Trước khi in bao bì, Color of Vietnam dò từng dòng trên nhãn về nguồn của nó: công thức, bảng quy cách, chứng nhận, quy định. Dòng nào không có nguồn thì bỏ.
Một buổi duyệt mẫu diễn ra thế nào
Buổi duyệt mẫu ở Color of Vietnam là cuộc họp ngắn quanh bàn: mẫu mới cạnh mẫu cũ và mẫu tham chiếu, câu hỏi cố định, rồi kết luận: đạt, chưa đạt hoặc chỉnh.
Chúng tôi chọn đối tác bao bì thế nào
Chúng tôi chọn nhà cung cấp màng và thùng theo sáu điểm: quy cách, hồ sơ tiếp xúc thực phẩm, mẫu chạy thử, thời gian giao, tổng chi phí và cách trao đổi.